Quà tặng tri ân khách hàng vntour

Phong tục Tang Chế trong văn hóa của người Việt

Tang Chế bắt đầu từ giờ phút thân nhân hấp hối,

I- Giờ phút thân nhân hấp hối,:

Những việc cần phải làm

- Dời người sắp mất sang phòng chính tẩm, đầu hướng về phía Đông.
- Hỏi xem có dặn dò trối trăng gì không

- Đặt thụỵ hiệu (tức tên hèm) rồi hỏi người đó có đồng ý không. Đoạn lấy một miếng vải lụa trắng dài 7 thước đặt lên mặt, sau kết thành hình người ( hồn bạch ) để vong hồn người chết tựa vào đó

- Luôn luôn có người túc trực bên cạnh.
- Người có theo tôn giáo thì làm lễ cầu nguyện theo phép của từng tôn giáo.
- Chuẩn bị mọi thứ để tắm gội (làm lễ mộc dục) và khâm liệm (lễ nhập quan).

II- Sau khi thân nhân mất

Nhiều nghi lễ được cử hành

1- Lễ phục hồi:

Có trường hợp đã tắt thở, tưởng là đã chết rồi nhưng sau một thời gian bỗng nhiên sống lại. Do đó với một hy vọng dầu mỏng manh, mặc dầu trong muôn một, người sống tiếc thương muốn cứu vãn... nên làm lễ phục hồi bằng cách lấy một khăn tay hay một tờ giấy phủ trên mặt rồi khiêng xác đặt xuống đất, xong lại khiêng lên giường cốt ý để người chết hấp thụ sinh khí của đất có hồi sinh lại chăng. Kế tiếp họ cầm chiếc áo quần của người đã tắt thở, leo lên mái nhà chỗ cao nhất hú "Ba hồn bảy vía ông" hoặc "Ba hồn chín vía bà" về nhập xác. Hú ba lần không được thì cũng đành lòng chịu khâm liệm mà tin rằng như vậy hồn đỡ vất vưởng, biết tìm đường về nhà (Khâm liệm xong vẫn chưa nỡ đóng chốt áo quan). Đây là một phong tục chủ yếu đẻ thoả mãn tâm linh.

2- Lễ mộc dục (tắm gội) :

Lúc tắm gội cho người vừa chết thường vừa để sẵn một con dao nhỏ, một vuông vải (khăn), một cái lược, một cái thìa, một ít đất ở ông đồ rau, một nồi nước ngũ vị hương và một nồi nước nóng khác. lúc tắm, vây màn cho kín, tang chủ quỳ xuống khóc, người hộ việc cũng quỳ rồi cáo từ rằng; "nay xin tắm gội để sạch bụi trần", xong phục xuống, đứng dậy. Cha thì con trai vào tắm, mẹ thì con gái vào tắm. Lấy vuông vải dấp vào ngũ vị, lau mặt, lau mình cho sạch rồi lấy lược chải tóc lấy sợi vải buộc tóc, lấy khăn khác lau hai tay hai chân, lại lấy dao cắt móng tay móng chân, mặc quần áo cho chỉnh. Móng tay móng chân gói lại để vào trong quan tài; dao, lược thìa và nước đem đi chôn; rước thi thể đặt lên giường.

3. Sau lễ mộc dục thời gian chưa nhập quan:

Đắp chăn hoặc chiếu, buông màn, đặt một chiêc ghế con phía trên đầu, trên đó đặt một bát cơm úp, một quả trứng, dựng một đôi đũa trên bát cơm và thắp hương. Có địa phương còn có tục để thêm một con dao trên bụng, (có lẽ để trừ tà ma hay quỷ nhập tràng).

4.- Lễ phạn hàm (lễ ngậm hàm)

Lễ này theo tục xưa, bỏ gạo và tiền vào miệng tránh tà ma ác quỷ đến cướp đoạt, để tiễn vong hồn đi đường xa được siêu thoát. Lễ này ngày nay nhiều nơi đã bỏ, có nơi thay thế bằng may một cái túi, trong túi đựng một ít tiền gạo và một vài đồ lặt vặt mà khi sống, người đó hay dùng đến.
Theo "Thọ mai gia lễ", lễ này được tiến hành như sau:
Lấy ít gạo nếp xát cho sạch, ba đồng tiền mài cho sáng (nhà giàu thì dùng vàng hoặc viên ngọc trai).
Tang chủ vào khóc quỳ, người chấp sự cũng quỳ, cáo từ rằng: " nay xin phạn hàm, phục duy hâm nạp". Người chấp sự lần lượt xướng "Sơ phạn hàm, tái phạn hàm, tam phạn hàm". Tang chủ ba lần, mỗi lần xúc một ít gạo và một đồng tiền tra vào mồm bên phải, rồi đến bên trái, cuối cùng vào giữa. Xong, bóp mồm lại, phủ mặt như cũ.

5- . Lễ khâm liệm nhập quan:

Các con vào, con trai bên trái, con gái bên phải. Người chấp sự xướng: Tự lập (đứng gần vào), Cử ai (khóc cả lên), Quỳ. Chấp sự cũng quỳ mà cáo từ rằng "Nay được giờ lành, xin rước nhập quan". Rồi người chấp sự xướng: phủ phục (lễ xuống), hưng (dậy), bình thân (đứng thẳng).
Sau đó các con cháu tránh ra hai bên, người giúp việc đưa người vừa mất vào quan tài cho êm ái, đặt cho chính giữa quan tài.

 

Trường hợp chết đã cứng lạnh, người co rúm không bỏ lọt áo quan thì làm thế nào?Theo kinh nghiệm dân gian: Hơ lửa và nắn dần cho thẳng ra, hoặc dùng cồn, rượu xoa bóp, nếu vẫn còn cứng lại, thì có thuật dùng hai chiếc đũa cả để hai bên mép áo quan rồi cho thi hài lọt xuống dần, khi thi hài đã lọt vào áo quan rồi, thì phải cắt bỏ những dây buộc chân, buộc tay, buộc vai, buộc mông đi.Nếu có hở chỗ nào cần lấy áo cũ của người vừa mất bổ khuyết cho đầy đủ, gấp vải khâm niệm dưới lên đầu trước, bên trái gấp trước, bên phải gấp sau, trên đầu gấp sau cùng, sơn nẹp đóng lại. Chú ý: Những quần áo của người đang sống, hoặc quần áo mà người đang sống có mặc chung thì kiêng không được bỏ vào áo quan. để người chết có thể nằm thoải mái.
Đồ khâm niệm: nhà giàu dùng vóc nhiễu, tơ, lụa; nhà thường dùng vải trắng may làm đại liệm (1 mảnh dọc, 5 mảnh ngang) hoặc tiểu liệm (1 mảnh dọc 3 mảnh ngang). Ngày trước, quy định đại liệm hay tiểu liệm vì khổ vải nhỏ. Ngày nay, dùng vải khổ rộng, miễn là kín chân,kín tay, kín đầu, kín gót là được.
"Tục ta nhiều người tin theo thầy phù thuỷ, trong quan tài thường có mảnh ván đục sao Bắc Đẩu thất tinh. Trước khi nhập quan thường chọn giờ, tránh tuổi rồi dùng bùa nọ bùa kia dán ở trong, dán ở ngoài quan tài. Có người cho là chết phải giờ xấu thì bỏ cỗ bài tổ tôm hoặc quyển lịch hoặc tàu lá gồi để trấn át ma quỷ" (Trích "Việt Nam phong tục"- Phan Kế Bính - tr.3)

Người xưa dùng những vật gì lót vào áo quan?

Trong các ngôi mộ cổ khai quật được, ngoài các đồ trang sức của người chết, phía trong áo quan thường có lót lá chuối, giấy bản, chè búp, bỏng nếp hoặc khăn vóc áo nhiễu... Trong quan, ngoài quách, giữa quan và quách đổ cát vàng. Các thứ đó đều là những chất hút ẩm và ngăn giữ khí hôi hám khỏi bốc ra ngoài, nhất là thời xưa chết xong chưa mấy ai đã chôn ngay, còn phải sắm đủ lễ vật, tế khí, còn phải xa gần phúng viếng linh đình, còn phải chọn ngày, chọn đất mới làm lễ an táng.
Mọi việc xong thì sơn gắn quan tài cho kỹ càng, đặt chính giữa gian chính của gia đình

6- Lễ thiết linh: (Sau khi nhập quan)

Là lễ thiết lập linh vị, đặt bàn thờ tang.
Khi chưa chôn cất thì lấy lễ thờ người sống mà lễ, nên mỗi lần lạy chỉ lạy hai lạy, trong linh vị và khăn vấn dùng chữ "Cố phụ", "Cố mẫu" thay cho "Hiền thảo", "Hiền tỷ".

 7- Lễ thành phục:

Con cháu mặc đồ tang theo nghi tiết ngũ phục rồi quỳ lạy và khóc trước linh cữu. Con cháu mặc đồ tang để đáp lễ khi khách đến viếng. Trước khi cử hành lễ thành phục, nếu có khách đến thì người chủ tang chưa ra tiếp mà người hộ tang thay mặt tiếp khách và thông cảm với khách. Sau lễ thành phục mới chính thức phát tang. Sau đó thân bằng cố hữu đến phúng viếng.

Trong thời gian lễ thành phục, thì người ta lập cờ minh tinh là thứ cờ hiệu bằng lụa đỏ ghi tên họ, chức tước cùng huy hiệu người chết bằng phấn trắng .

8- Lễ an táng

Trước tiên người ta đem hồn bạch đến từ đường để cáo tổ tiên . Rồi người ta làm lễ tiễn biệt người chết ( tục gọi là lễ khiển diện). Theo tục này, đi đầu là đoàn người mặc áo mũ đạo sĩ, tay cầm đao để khu trục ma quỷ, đoàn này được gọi là đoàn phương tướng. Thứ đến cờ đan triệu có viết chữ trung tín (đàn ông ) hoặc trinh thuận (đàn bà), rồi đến đối trướng, cờ minh tinh, linh xa rước hồn bạch và sau cùng là kiệu khiêng linh cữu ( đại dư) .

Con trai chống gậy tre khi tang cha, hoặc gậy vông khi tang mẹ, theo linh cữu, đi lùi trước linh cữu, còn con gái, con dâu thì đi theo sau linh cữu trong một cái màn trắng ( bạch mạc). Sau cùng đến các tộc trưởng, họ hàng, bạn hữu đi đưa.. Dọc đường con gái con dâu có lệ thỉnh thoảng nằm lăn xuống đường khóc lóc, kể lể để cỗ đại dư vượt qua. Dọc đường có rắc những thỏi vàng giấy để đánh dấu cho linh hồn người chết biết lối mà về.Tới huyệt, người ta chuẩn bị làm lễ hạ huyệt . Khi đặt quan tài vào huyệt thì có thầy phong thủy phân kim lấy hướng , trải minh tinh trên quan tài rồi đắp mồ . Đắp mồ xong , rước hồn bạch hay thần chủ vào linh xa về nhà .

9-Tang chế sau ngày tống táng

Chôn cất xong , thì sau 3 ngày có lễ tạ mộ, sau 49 ngày có lễ chung tất, rồi sau 100 ngày có lễ Tốt khốc. Trong tất cả những buổi lễ này người ta cầu cho vong hồn được an tĩnh. Sau đúng một năm chết thì có lễ Tiểu tườngl (lễ giỗ đầu tiên). Sau 3 năm thì có lễ Đại tường(Đoạn tang). Hàng năm đến ngày kỵ, người ta làm lễ giỗ cho đến khi người chết tới bực ngũ đại thì chôn thân chủ rồi thờ chung ở từ đường chứ không làm giỗ riêng nữa. Chiều hôm trước ngày giỗ có nghi thức dâng lễ vật mời gia tiên nếm trước , người Việt quen gọi là lễ tiên thường. Vào ngày giỗ con thứ phải góp lễ ở nhà con trưởng, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, và con cái phải đặt bàn thờ vọng và vọng bái trong trường hợp sống xa nhà . Nói đến tang chế là phải nói đến cư tang

Cư tang là gì ?

Thời xưa, dẫu làm quan đến chức gì, theo phép nước, hễ cha mẹ mất đều phải về cư tang 3 năm, trừ trường hợp đang bận việc quân nơi biên ải hay đi sứ nước ngoài. Lệ này không quy định đối với binh lính và nha lại. Nếu ai vì tham quyền cố vị, giấu diếm không tâu báo để về cư tang, bị đàn hặc vì tội bất hiếu, sẽ bị triều đình sử phạt biếm truất. Trong thời gian cư tang, lệnh vua không đến cửa.
Ba năm cư tang là ba năm chịu đựng gian khổ, nhẫn nhục, không dự mọi cuộc vui, không dự lễ cưới, lễ mừng, không uống rượu (ngoài chén rượu cúng cha mẹ), không nghe nhạc vui, không ngủ với vợ hoặc nàng hầu, trừ trường hợp chưa có con trai để nối dõi tông đường, ngoài ra ai sinh con trong thời kỳ này cũng bị coi là bất hiếu. Không được mặc gấm vóc, nhung lụa, không đội mũ đi hia, thường đi chân không, cùng lắm chỉ đi guốc mộc hoặc giày cỏ.Dầu làm đến tể tướng trong triều, khi khách đến viếng cha mẹ mình, bất kể sang hay hèn cũng phải cung kính chào mời và lạy tạ (hai lạy hay ba vái dài). Khi ra đường, không sinh sự với bắt cứ người nào. ở trong nhà, đối với kể ăn người ở cũng không được to tiếng. Ba năm sầu muộn, tự nghiêm khắc với chính mình, rộng lượng với kẻ dưới, cung kính với khách bạn, để tỏ lòng thành kính với cha mẹ.

10- Những tục liên hệ đến tang chế

Đó là ngũ phục và cưới bôn tang

A- Về ngũ phục (năm hạng tang phục) thì có :

a---Đại tang: Trảm thôi và tề thôi. Thời hạn: 3 năm (Con cái để tang cha mẹ )

-Trảm thôi (tức là Quần áo sổ gấu): Con để tang cha. Áo vải sô xổ gấu có miếng vải đính ở sau lưng , hai miếng đính ở hai vai. Ở lưng thắt một sợi giây chuối 2 vòng , ngoài phủ bằng một áo rộng bằng vải sô. Trên đầu có một cái khăn bằng vải sô bỏ múi ra đằng sau gáy. Con trai có một mũ bằng bẹ chuối ( mũ nùn) và gậy tre đẽo tròn nếu tang cha , gậy đẽo vuông nếu tang mẹ. Con gái thì đội mũ nhọn ( mũ mấn) bằng vải che kín cả mặt
-Tề thôi (tức là Quần áo không sổ gấu): Con để tang mẹ, khi cha chưa mất, vợ để tang chồng.

b-- Cơ niên: Để tang một năm. Cháu để tang ông bà , để tang chú bác

Từ niên cơ trở xuống dùng khăn tròn, vải trắng, không gậy.

c--- Đại công: để tang 9 tháng. Tang anh em ruột thịt

d---Tiểu công: Để tang 5 tháng.

ông bà và cụ kỵ cũng để tang hàng cháu, hàng chắt.

e-- Ty ma Phục: Tang 3 tháng.

Chắt để tang cụ. (Hoàng tang: Chít khăn vàng)

Chít để tang can (kỵ) nội (ngũ đại : Hồng tang chít khăn đỏ).

B- Về "Cưới bôn tang, tức là cưới chạy tang".

Khi đó người chết nằm tạm trên giường, đắp chăn chiếu lại, chưa nhập quan, hoặc gia đình có thể tự làm thủ tục khâm liệm, nhập quan nhưng chưa làm lễ thành phục.

Theo nghi lễ, nếu chưa thành phục thì trong nhà chưa ai được khóc. Hàng xóm tuy có biết nhưng gia đình chưa phát tang thì chưa đến viếng, trừ thân nhân ruột thịt và những người lân cận tối lửa tắt đèn có nhau, coi như người nhà.
Trong khi đó, cả hai gia đình chuẩn bị gấp đám cưới cũng làm đủ lễ đưa dâu, đón dâu, yết cáo gia tiên, lễ tơ hồng... nhưng lễ vật rất đơn sơ, thành phần giản lược, bó hẹp trong phạm vi gia đình và một vài thân nhân. Khách, bạn đã mời cũng miễn, sẽ thông cảm sau. Công việc cưới, gả xong xuôi mới bắt đầu phát tang. Cô dâu chú rể mới, trở thành thành viên của gia đình, chịu tang chế như mọi con cháu khác. Nếu hai gia đình thông cảm cho nhau, có thể trong một ngày, từ sáng đến trưa cưới dâu, chiều tối phát tang cũng xong

11- Giải thích mấy vấn nạn về tang chế

 - Cha mẹ có để tang con không?

Theo "Thọ mai gia lễ" thì chẳng những cha mẹ để tang con mà ông bà và cụ kỵ cũng để tang hàng cháu, hàng chắt.

- Tại sao có tục kiêng không để cha mẹ đưa tang con?

Phút hạ huyệt là giờ phút xúc động đến cực điểm, có nhiều ông bố bà mẹ đã bị ngất lịm đi.

- Chữ Cha chữ mẹ được hiểu như thế nào ?

"Thọ mai gia lễ giải thích

Ba cha là:

Thân phụ: Cha sinh ra mình.
Kế phụ: Sau khi cha chết, mẹ lấy chồng khác, chồng mới của mẹ là kế phụ hay, bố dượng.
Dưỡng phụ: Bố nuôi.
Tám mẹ là:

Đích mẫu: Vợ cả của bố.
Kế mẫu: Khi còn nhỏ mẹ đã mất, cha lấy vợ khác để nuôi nấng mình.
Từ mẫu: Mẹ chết từ tấm bé, cha sai người vợ lẽ nuôi mình bú mớm.
Dưỡng mẫu: Mẹ nuôi, cha mẹ nghèo cho mình để người khác nuôi.
Xuất mẫu: Là mẹ sinh ra mình nhưng bị cha ruồng rẫy.
Giá mẫu: là mẹ sinh ra mình, nhưng khi cha mất thì đi lấy chồng khác.
Thứ mẫu: Là mẹ sinh ra mình nhưng là vợ lẽ của cha.
8- Nhũ mẫu: Mẹ vú, cho mình bú mớm từ khi còn tấm bé.

Khuyến mãi du lịch cuối năm

} , 3000);