Quà tặng tri ân khách hàng vntour

Phong Tục Cưới Hỏi trong văn hóa của người Việt

Hôn nhân Gia đình nguời Việt là cơ sở chính của xã hội nông nghiệp. Gia đình có quyền tế tự tổ tiên và nghĩa vụ lưu truyền tôn thống, nên gia đình là thiêng liêng. Bởi vậy, việc hôn nhân quan hệ trực tiếp đến sự tồn vong của gia đình cũng bao phủ mầu sắc tôn giáo và nghi lễ. Đối với người Việt, hôn nhân được Trời xếp đặt vì nó là một việc hệ trọng nhất trong đời người. Có những mẩu chuyện kể sự Trời can dự vào việc hôn nhân của con người. Đây câu chuyện Vi Cố và ông Tơ.

-Chuyện Vi Cố :

Một hôm Vi Cố gặp một ông lão trong một đêm trăng. Ngồi hướng về mặt trăng, ông lão đang đọc các văn thư kết hôn của toàn thiên hạ, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Các dây đỏ dùng để buộc chân những đôi trai gái để thành vợ thành chồng. Sau đó một thời gian, Vi Cố vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua, bỗng ông lão lại xuất hiện trước mắt anh mà bảo rằng đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố giận sai người đầy tớ giết đứa bé đi. Giết rồi, người đầy tớ lẻn trốn khỏi đám đông. Mười bốn năm sau, Vi Cố được quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho. Cô gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố hỏi chuyện vợ, được vợ kể rằng: Thủa bé, bà vú họ Trần bế qua chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải, Bà Vú đó chột mắt. Vi Cố cũng kể cho vợ nghe câu chuyện trước. Thế rồi hai vợ chồng càng yêu nhau hơn vì tin rằng sự kết duyên vợ chồng của chàng và nàng là duyên trời định sẵn.

-Còn chuyện ông Tơ:

Con người thường hay quấy nhiễu nhà Trời đủ cách. Một vị thần bầy kế cho Thượng Đế như sau: Cứ đôi trai gái nào ở gần nhau thì Trời phái một vị thần xuống quẳng cho một vòng tơ tình ái. Người nào càng thông minh thì lại quẳng thêm cho một vòng tình ái nữa. Con người chỉ luẩn quẩn tình ái mà chẳng còn thì giờ quấy nhiễu Trời. Trời khen thật là diệu kế. Thế rồi một ông Tiên già được Thượng Đế sai xuống trần gian làm công tác quẳng dây tơ hồng. Ông Tiên già ấy được gọi là ông Tơ. Hôn nhân được cử hành khởi đầu bằng những nghi lễ Hôn Thú.

Người Kinh

Hôn Thú có ba lễ chính: vấn danh ( lễ giạm), nạp lệ ( lễ hỏi), thân nghinh ( lễ đón dâu). Việc hôn nhân là do cha mẹ định đoạt ( phụ mẫu chi mệnh), con cái không có quyền định đoạt mối lương duyên của mình. Khi cha mẹ ưng ý một người con gái nào hoặc vì nết na, đảm đang hoặc vì gia đình môn đương hộ đối, thì nhờ người băng nhân điều đình. Nếu nhà gái thuận, thì làm lễ vấn danh. Vấn danh là tục nhà trai nhờ người mối đến hỏi tên người con gái để so tuổi trai gái xem có hợp nhau không ( xung khắc hoặc tương hợp theo số tử vi). Người mối đem lễ đến nhà gái xin lộc mệnh hay bát tự tức là giấy ghi chép giờ, ngày, tháng, năm, sinh của người con gái.

Nếu thầy số so tuổi hai người trai gái được tương hợp, thì nhà trai làm lễ nạp lệ. nạp lệ là tục đem đồ sính lễ đến nhà gái để đính ước. Từ đấy cứ đến ngày nhà gái có giỗ, người con trai phải đến cúng, cứ đến ngày tết, phải đem đồ sêu tết tới nhà vợ chưa cưới. Lệ sêu Tết bao giờ và lý do gì? Có lệ sêu Tết vì có tục hỏi vợ từ còn nhỏ, gần trưởng thành mới cưới, hoặc bị tang chế ngăn trở phải đợi. Chung cục của hôn thú là lễ thân nghinh ( cưới): lễ họ nhà trai đến nhà gái đón dâu về. Trước ngày cưới, người mối đến điều đình về món tiền và lễ vật thách cưới. Vì thương con nên ngon của, điều đình không khó khăn. Đôi khi nhà gái thách quá cao thành thử cưới xin là một dịp gả bán. Về lễ vật, thì thường có bánh Su Sê. Bánh Su Sê nguyên là bánh phu thê, rồi bị nói chệch thành bánh Su Sê. Bánh làm bằng bột đường trắng, dừa, đậu xanh, và các thứ hương vị, nặn hình tròn, bọc bằng hai khuôn hình vuông úp lại với nhau. Bánh Su Sê là biểu tượng của đôi vợ chồng phận đẹp duyên ưa, đồng thời cũng là biểu tượng của đất trời ( trời tròn đất vuông), phù hợp luật âm dương ngũ hành ( tư tưởng của Đạo Lão). Hôn nhân là quy luật thiên nhiên. Vợ chồng phải sống thế nào cho hợp đạo đức..

Ngày đón dâu thì vào giờ hoàng đạo, họ nhà chú rể mặc quần áo đẹp thành đoàn đến nhà gái, người chủ hôn đi đầu.. Người chủ hôn là người cao tuổi mà vợ chồng song toàn, con cháu đông đức, mặc lễ phục, bưng quả hộp đựng trầu cuới và tư trang của cô dâu, mở lối, rồi đến các người dâng lễ, sau đến chú rể cùng hai người phù rể, sau mới là cha mẹ và họ nhà trai. Tới nhà gái, vị chủ hôn rồi đến chú rể vào làm lễ gia tiên, đoạn người ta mới đặt hương án ra giữa sân cho cô dâu chú rể làm lễ tơ hồng. Xong lễ tơ hồng, chú rể vào mừng cha mẹ vợ rồi cùng họ hàng ăn ưống. Ăn uống đoạn mới rước dâu về. Trước khi rước dâu, cô dâu chú rể đến trước bàn thờ gia tiên, xin tổ tiên chấp nhận cho nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp,cầm sắt giao hòa, rồi đến làm lễ tạ ông bà và cha mẹ. Cô dâu cung kính thưa: " Xin phép ông bà cha mẹ con về nhà chồng" Cha mẹ ông bà cho quà kỷ niệm. Khi đưa dâu , nhà gái chọn một người cao tuổi cầm bó hương đi trước rồi họ hàng dẫn cô dâu theo sau, có hai phù dâu đi bên cạnh. Đến nhà trai, một bà dẫn cô dâu vào làm lễ gia tiên rồi đến lễ cha mẹ chồng. Khi vào buồng cưới, cô dâu phải bước qua một chiếc hỏa lò than hồng để xua đuổi tà khí. Đến tối hôm động phòng, người chồng lấy trầu lễ tơ hồng trao ½ cho vợ, rót một chén rượu uống ½ còn một ½ kia trao cho vợ uống: đó là lễ hợp cẩn. Ba ngày sau, hai vợ chồng trở về nhà vợ làm lễ tứ hỷ hay lại mặt rồi hai vợ chồng đi chào họ hàng nhà vợ. Sau lễ cuối cùng này, trở về nhà chồng. Từ đấy người vợ không còn quan hệ mật thiết đến gia tộc của mình nữa. ( nữ nhân ngoại tộc).

Trên đây là tục lễ cưới hỏi của người Kinh, dưới đây là tục lễ cưới hỏi của người Thượng.

Dân tộc Mường

Người Mường cư trú ở Hòa Bình, Thanh Hóa và Phú Thọ Lễ cưới của người Mường tương đối thống nhất, thường là 4 giai đoạn: Lễ Dạm hỏi; Lễ ăn hỏi (ti mòn); Lễ ra mắt chàng rể (ti cháu) và Lễ đón dâu (xước đu).

1. Dạm hỏi

Nhà trai tìm một người làm mai mối gọi là Ông (bà) mờ phải là người đứng tuổi, có uy tín, được nhiều người kính nể, đông con nhiều cháu, nói chuyện khéo léo, có tài ứng đáp.Ông (bà) mờ mang trầu cau, thuốc lào, bánh mật đến nhà cô gái để chính thức ngỏ lời cho đôi bạn trẻ nên vợ nên chồng. Trong buổi gặp gỡ này, hai bên cùng nhau bàn bạc, trao đổi và thỏa thuận ngày kháo tiếng.Đến ngày kháo tiếng, nhà trai chuẩn bị 10 quả cau, 20 lá trầu, 2 gói chè - tất cả bọc vào một gói trao cho Ông (bà) mờ mang đến nhà cô gái thường là vào lúc chạng vạng tối. Nhà gái bao giờ cũng cử người ra cổng chờ sẵn để đón nhận gói lễ vật và mời ông (bà) mờ vào nhà. Thường thì nhà gái mổ gà thết đãi ông (bà) mờ. chủ nhà đều giữ đôi chân gà để xem đoán mọi sự tốt xấu về nhân duyên của cô gái; gói lễ vật của nhà trai được đặt lên bàn thờ tổ tiên. Sau ba ngày, nếu nhà gái không mang trả lại gói lễ vật tức là đồng ý. Theo tập quán của người Mường, sở dĩ phải đợi 3 ngày là vì thời gian đó ông bố của cô gái phải nằm nghe trong 3 ngày đêm liền, nếu không thấy tiếng hươu giác, vượn kêu, gà gáy gở, cây đổ, đá lăn thì coi là được - nghĩa là không có điềm gở, điềm xấu. Sau đó, tự tay ông mở gói lễ vật và báo cho họ hàng rằng nhà có tin vui. Từ đấy hai gia đình trở thành thông gia

2.Lễ ăn hỏi (ti mòn)

Theo truyền thống của người Mường, việc ăn hỏi, cưới xin thường được tổ chức vào tháng 11, tháng 12 (âm lịch) là thời điểm mùa màng đã thu hoạch xong, thời tiết mát mẻ dễ chịu; lúc này các cây cau trong vườn cũng đã đến kỳ dùng được..

Khi ngày, giờ đã được chọn, ông (bà) mờ về báo cho nhà trai biết để sắm sửa lễ vật. Lễ ăn hỏi được tiến hành hai lần: lần đầu gọi là mòn gà và lần thứ hai gọi là mòn lợn.

Trong lễ mòn gà, nhà trai phải sắm sửa 2 con gà sống, 2 gói cá, 16 gói bánh bẹng làm bằng gạo nếp, 1 buồng cau, 30 lá trầu, 4 gói cơm nếp, 4 chai rượu. Tất cả các lễ vật được xếp vào một cái thúng cho 4 người khiêng.

Thành phần đoàn nhà trai khi mang lễ vật ăn hỏi lần một mòn gà bao gồm: ông (bà) mờ, 2 nam thanh niên và một em gái của chàng rể. Trước khi đi ăn hỏi, gia đình nhà trai làm mâm cơm thắp hương cúng tổ tiên. Lúc bắt đầu đi, người ta kiêng gặp con gái và người có "vía độc". Để tránh điều này, họ cử một bé trai ra ngoài cổng để lấy may. Khi tới nhà gái, toàn bộ lễ vật được ông (bà) mờ trao cho người đại diện nhà gái. Phía nhà gái có mặt đông đủ họ hàng. Nhà gái lúc này cũng đã chuẩn bị bữa cơm, mời mọi người cùng ăn uống, vui vẻ. Trước khi ra về, ông (bà) mờ cùng nhà gái bàn bạc thống nhất ngày tổ chức ăn hỏi lần hai (còn gọi là mòn lợn).

Đúng ngày lễ ăn hỏi mòn lợn, nhà trai phải chuẩn bị 2 con lợn khoảng 80 kg đã mổ thịt, gà sống 4 con, 2 gánh xôi, 2 chum rượu nhỏ cùng trầu, cau. Đoàn nhà trai gồm: ông (bà) mờ, chàng rể cùng 3, 4 người bạn của chàng rể, và 8 người khiêng lễ vật. Trước khi đoàn khởi hành, nhà trai cũng làm mâm cơm cúng để trình cáo tổ tiên, rồi bố mẹ của chàng rể giao cho ông (bà) mờ một túi vải đựng 2 vòng tay bằng bạc, 8 vuông vải tự dệt để làm chăn.

Khi đoàn đến cổng nhà gái, thì nhà gái đã có người đứng chờ sẵn để khiêng lễ vật và mời nhà trai lên nhà uống nước, ăn cơm. Lúc này ông (bà) mờ thay mặt nhà trai trao túi vải được mở ra trước sự chứng kiến của đông đủ họ hàng nhà gái và được để lên bàn thờ tổ tiên. Gói lễ vật này, sau lễ ăn hỏi được bố mẹ cô gái mang xuống để vào trong hòm, đợi khi nào con gái sinh con đầu lòng thì tặng lại cho cháu. Từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới chính thức thường kéo dài 3 hoặc 4 năm. Trong thời gian chờ đợi đến ngày cưới chính thức, nhà trai tích cực chuẩn bị điều kiện vật chất cho lễ cưới.

3. Lễ ra mắt chàng rể (ti cháu)

Khi thống nhất ngày cưới với nhà gái, ông (bà) mờ về báo tin để nhà trai chuẩn bị lễ vật. Khi lễ vật đã chuẩn bị đầy đủ, nhà trai tiến hành ngày dẫn của. Ngày này thường tiến hành trước đám cưới một ngày. Trước khi đi, nhà trai làm mâm cơm cúng trình cáo tổ tiên, mong được phù hộ để mọi sự được diễn ra tốt đẹp.

Đoàn nhà trai khoảng 40 người gồm: ông (bà) mờ, ông chú, bà bác, chàng rể, phù rể, em gái của chàng rể và một số người khiêng lễ vật. Khi đến gần nhà gái đoàn người dừng lại, sửa sang quần áo, sắp xếp lại lễ vật cho ngay ngắn, rồi đi thẳng vào sân nhà cô dâu. Lúc này, nhà gái cử người ra đón, đồng thời cử người ra xem lễ vật có đủ hay không: nếu thiếu nhà trai phải tìm cho đủ như đã thỏa thuận. Người ta buộc trâu vào, bò vào gầm sàn nhà, các lễ vật khác mang lên nhà và để vào các vị trí do nhà gái sắp xếp; rồi nhà gái mời đoàn dẫn của uống nước, ăn trầu. Ông (bà) mờ là người giao tiếp chính với nhà gái. Ông dắt chàng rể và phù rể đi đến bàn thờ lạy tổ tiên nhà gái, rồi quay ra chào mọi người. Ông (bà) mờ dẫn đại diện nhà trai lên trao lễ vật cho đại diện nhà gái. Đại diện nhà gái mời đoàn dẫn của ăn bữa cơm thân mật với gia đình nhà gái trong không khí vui vẻ, thân tình. Trước khi nhà trai ra về, nhà gái bê ra mâm trầu cau và chai rượu chúc mỗi người một chén mong cho chân cứng đá mềm.

4. Lễ đón dâu (xước du)

Đoàn đón dâu tập trung trước nhà sàn, giàn cồng gióng lên một hồi ba tiếng; dứt hồi cồng, đoàn đón dâu lên đường. Khi tới cổng nhà gái, giàn cồng im tiếng; lúc này bạn bè của cô dâu đã trải sẵn một chiếc chiếu trước lối vào nhà. Ông (bà) mờ đem một cút rượu nhỏ cùng cơi trầu đến xin nhà gái mở lối cho đoàn đón dâu vào nhà. Lúc này người nhà gái mở lối cho đoàn đón dâu vào nhà.

Khi đoàn người đến chân cầu thang lại bị các cô gái cầm bó lá han quất nhẹ vào chân, làm như vậy sau này vợ chồng sẽ chung sống với nhau hạnh phúc và con cái sinh ra sau này sẽ không bị mụn nhọt, rôm sẩy. Khi lên đến nhà sàn, mọi người được đại diện họ nhà gái hướng dẫn chỗ ngồi cho từng người; còn chú rể thì đến trước bàn thờ vái lạy tổ tiên rồi lậy sống ông bà, bố mẹ cùng những người thân trong họ thuộc vai trên cô dâu. Cỗ bàn được bày ra, nhà gái mời mọi người cùng ăn uống, vui vẻ, thân tình.

Trong ngày cưới, cô dâu mặc bộ váy áo đẹp nhất, trên đỉnh đầu trùm chiếc khăn vuông màu trắng và buộc thắt nút ra đằng sau gáy; với bộ áo cánh ngắn xẻ giữa ngực và bên trong mặc yếm. Cô dâu vận chiếc áo màu đen dài đến mắt cá chân, lưng thắt khăn lụa màu xanh lá cây để lộ cặp váy bằng lụa tơ tằm dệt rất cầu kỳ các loại họa tiết hoa văn, lại đeo xà tích bằng bạc, cổ tay đeo vòng bạc trông rất xinh xắn, uyển chuyển.

Khi có hiệu cồng chuẩn bị xuất phát gióng lên, cô dâu và phù dâu từ trong buồng bước ra, tới trước bàn thờ vái lạy từ giã tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Trước khi cô dâu ra khỏi nhà, một bà trong họ được cử ra đội nón lên đầu cho cô dâu và dặn dò cô dâu về cách cư xử với nhà chồng sau này. Theo tập quán của người Mường là: Khi cô dâu ra khỏi nhà thì phải cầm một con dao nhỏ, lưỡi dao có cắm củ gừng nhằm mục đích trừ ma và những điều rủi ro, trên đường về nhà chồng, cô dâu không được ngoái đầu nhìn lại (vì sợ sau này vợ chồng sống không hạnh phúc).

Khi đoàn đón dâu về đến chân cầu thang nhà trai, em gái của chàng rể lấy nước rửa chân cho chị dâu. Mọi người lấy nước rửa chân rồi đi lên nhà sàn, riêng cô dâu và phù dâu không được bước chân vào bậc thang thứ nhất, mà phải bước qua bó củi (do nhà trai đặt) rồi mới đi lên các bậc thang sau. Họ tin rằng làm như vậy thì cô dâu sau này sẽ chăm chỉ làm ăn hơn. Bước vào trong nhà, cô dâu đi thẳng đến bếp lửa, quỳ xuống lạy vua bếp nhằm mong muốn sau này đến ngày sinh nở vua bếp sẽ phù hộ cho hai mẹ con; rồi mới đến bàn thờ lạy tổ tiên và những người vai trên của chàng rể.

Sau khi cô dâu khấn tổ tiên, thì tiến hành lễ tơ hồng. Chiếu được trải giữa nhà, mâm lễ đơn giản gồm một quả trứng cắt tư, một đĩa xôi, một quả bầy khô đựng nước lã, một hũ rượu nhỏ. Sau khi ông (bà) mờ làm lễ tơ hồng, cỗ bàn được bày ra, hai họ cùng ăn uống mừng cho hạnh phúc cô dâu chú rể.

 

Dân tộc Dao ở Lạng Sơn & Lào Kay

Khi đôi trai gái quen nhau, mến nhau và họ đi đến quyết định xây dựng hạnh phúc lứa đôi thì gia đình trai sang nhà gái tiến hành thủ tục hỏi vợ cho chàng trai. Hôn thú phải qua 2 lần làm lễ ăn hỏi. Lần thứ nhất đi ăn hỏi, nhà trai chỉ có bố, mẹ hoặc anh, chị của chàng trai mang theo 3 đôi đồng xu để “làm lý” ( để cho bố cô dâu mẹ cô dâu và cô dâu tương lai mỗi người một đôi). Trong lần ăn hỏi này, gia đình nhà trai sẽ tìm hiểu xem gia đình nhà gái có chấp thuận cho đôi trai gái được phép tìm hiểu, lấy nhau không và xem gia đình nhà gái có bao nhiêu người để tiện việc chuẩn bị những đôi đồng xu cho những người đó trong lần ăn hỏi thứ hai.


Lần thứ 2 ăn hỏi thì nhà trai đến nhà gái cùng với một người làm mai mối và những đồng xu để đủ tặng cho những người trong gia đình nhà gái. Tại nhà gái sẽ mời một người làm chứng để nghe ý kiến, dự định ngày cưới cho đôi trai gái, người này cũng được nhà trai tặng cho 1 đôi đồng xu.

Sau khi thống nhất ngày cưới thì 2 gia đình bàn việc đi ở của hai con. Theo tục lệ thì chàng trai sẽ phải đi ở rể nhà gái hoặc cô gái đi ở nhà trai từ 1 đến 2 năm, nếu thấy ưng ý và hợp nhau thì mới tổ chức đám cưới như dự định. Đây cũng chính là mốc đánh dấu thời gian tìm hiểu nhau của đôi trai gái. Việc “đi ở trước ngày cưới” giúp cho đôi trai gái tìm hiểu nhau kĩ hơn, thực sự hiểu và yêu nhau, tâm đồng ý hợp, lấy nhau làm vợ chồng gắn bó với nhau như đôi chim trên rừng.

Chuẩn bị ngày cưới

Để mời họ hàng, người thân, cũng như bạn bè của cô dâu, chú rể đến dự lễ cưới, cả 2 gia đình nhà trai, nhà gái phải thu nhập rất nhiều đồng tiền xu được lưu truyền từ những thế hệ trước để khi đến mỗi nhà họ phải có 2 đồng xu mang ra tặng chủ nhà. Tiền xu có hình tròn, làm bằng đồng đen, có lỗ xỏ hình vuông ở giữa, khắc hoa văn và những chữ nổi ở trên mặt. Đây không chỉ là những đồng tiền dùng để mua bán, trao đổi hàng hóa mà nó là sản phẩm văn hóa tinh thần chỉ được sử dụng làm nghi lễ cho việc mời cưới của người Dao. Điều đặc biệt là cứ đến mỗi gia đình để mời cưới thì họ để lại 2 đồng tiền xu ấy cho chủ nhà, nhưng luôn luôn phải có đôi.

Việc mời cưới bằng 2 đồng tiền xu có ý nghĩa như một căn cứ để xác định cũng như thông báo với mọi người rằng đôi trai gái kia sắp thành vợ thành chồng. Hai đồng tiền xu luôn đi kèm với nhau tượng trưng cho đôi trai gái yêu nhau, họ đã sánh đôi, luôn hạnh phúc bên nhau.

Đến lễ cưới, gia đình nhà gái chỉ thách cưới nhà trai 1 đôi gà sống đẹp, 1 lít rượu ngon để làm thủ tục lễ bái tổ tiên gia đình mình. Nhà trai đến nhà gái đón dâu từ tối hôm trước. Mọi người đến dự lễ cưới đều mặc trang phục truyền thống. Đôi trai gái mặc bộ trang phục đẹp nhất, mới nhất. Sau khi làm lễ cúng gia tiên, thần linh cho đôi trai gái thì khách được mời ngồi vào mâm cơm cỗ thưởng thức món ăn truyền thống và uống rượu suốt đêm, ca hát mừng hạnh phúc cho đôi trai gái.

Đến sáng hôm sau nhà trai đón dâu về. Đại diện (trừ bố, mẹ cô dâu) cùng đi với đoàn rước dâu. Nhà gái gói những gói cơm có đầy đủ thức ăn vào lá chuối tươi để cho đoàn rước dâu đi đường xa ăn dọc đường. Nếu hai gia đình ở gần nhau thì nhà gái vẫn phải gói ít nhất một gói cơm gửi cho nhà trai mang theo để thể hiện sự quan tâm. Khi đến nhà trai, việc đầu tiên mà cô dâu và chú rể phải làm là quỳ trước ban thờ làm lễ báo cáo tổ tiên, thần linh.
Gia đình nhà trai mời một thầy cúng giỏi nhất vùng để làm lễ cho đôi trai gái chính thức làm vợ chồng của nhau. Lễ cưới tại nhà trai được tổ chức trong suốt một ngày một đêm, hôm ấy những lời chúc tốt đẹp, trong men rượu nồng nàn hương vị tình yêu. Những người đến dự đám cưới chúc phúc cho đôi trai gái và mừng tiền, tiền gói trong phong bì, số tiền phải có 2 tờ giống nhau chứ không bao giờ 1 tờ hoặc nhiều hơn 2 tờ. Thể hiện mong muốn cho đôi trai gái kia luôn hạnh phúc, có đôi, quấn quýt với nhau như cặp tiền

Dân tộc Thái ở Sơn La

(Tóm lược ý và lời bài Tục cưới hỏi, người Thái của Đào Quang Tố trong Internet)

Xưa kia nếu con trai muốn lấy vợ thì phải chăm lao động, học thổi khèn bè chiếm được tình yêu cô gái… Người con gái muốn có chồng, ngoài nết na phải học được thêu thùa khăn Piêu, dệt vải khuýt và luyện cái tai tinh tường để “nghe tình yêu qua khèn bè”; đâu là tiếng khèn bạn tình, đâu là tiếng khèn họ đang trèo cầu thang lên nhà, đâu là tiếng khèn gọi mình ra ngồi đầu sàn nói chuyện cùng họ đêm trăng; đâu là tiếng khèn tình không lành mạnh… Khi đôi nam nữ yêu thương nhau qua tiếng khèn, ánh mắt, muốn lấy nhau, thì phải qua vài thủ tục :

Tục Lòng Luông:

Mẹ đẻ và một vài bà trong họ đến nhà cô gái xin cho con trai mình được đi lại để tìm hiểu.

Tục Pay đu:

Sau một thời gian, họ nhà trai tổ chức lễ vật: gà, lợn, rượu, gạo… nhờ một ông mối dẫn đầu đến nhà cô gái, xin cho đôi nam nữ có điều kiện tìm hiểu. Gia đình nhà gái chỉ nhận lời cho gần gũi, chứ chưa nhận lời cho lấy nhau.

Tục To pác.

Nhà trai mang lễ vật đến nhà gái làm cỗ mời hai họ. Nhà gái công khai hỏi đôi nam nữ về nguyện vọng xây dựng gia đình rồi nhất trí cho lấy hay không,.

Tục Khưới quản (cũng gọi là Ôm sáo):

Người con trai đến ở nhà cô gái, được cùng ăn, làm việc nhưng ngủ một chỗ riêng gần sàn quản, gọi là khưới quản. Giai đoạn này khoảng 1 năm cô gái vẫn có quyền tiếp bạn trai khác. Tuyệt đối người con trai không được lén lút ngủ với cô gái, nếu có (nhất là chửa) sẽ bị phạt rất nặng.

Tục Xông Phắc phá.

Sau một năm, nhà trai làm một bao dao có cả dao đem theo lễ vật: lợn, gà, cá nướng, thịt chua, gạo, rượu làm cỗ mời nhà gái ăn, từ 10 giờ sáng đến tận tối (gọi là công ơn). Tục này là một hình thức cưới gửi rể cho nhà gái. Hai họ trai gái có lời chúc, lời khuyên đôi trai gái sắp thành vợ chồng, bằng những câu ca dao, tục ngữ, chẳng hạn như:

Chớ nghe lời con gà mà bỏ vườn.

Chớ nghe lời xúi dục mà bỏ anh em.

Chớ nghe lời ham muốn dại mà mất cuả.

Bằng lòng nhau thành thơm, không ưa thành thối.

Không nên người ăn người ngửi mùi.

Trai khôn nhà không bằng người đi xa….

Kết hợp với lời khuyên, hai họ cho một số tiền nhỏ làm vốn, đạt vào một cái đĩa, gọi là Phan khẩu xó. Phan khẩu xó có nghĩa là xin phúc, xin lời răn dạy, xin nhận họ hàng. Ở nghi lễ này đôi nam nữ được chấp nhận là vợ chồng.

Tục rước dâu về nhà chồng

Ở rể tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, có khi chỉ là một, hai tháng, một hai tuần, rồi nhà trai tổ chức lễ cưới đem lễ vật tặng nhà gái đón cô dâu về nhà chồng. Trong buổi rước dâu về nhà chồng, một đoàn trai tráng khiêng gánh chăn, đệm và các vật phẩm họ nhà gái tặng như dụng cụ nhà bếp : bát, chậu, nồi, xoong. Về đến nhà chồng người ta làm lễ tổ tiên cho cô dâu nhập gia. Nhà trai lại tổ chức một bữa cỗ đông vui chào hai họ và bè bạn. Sau đó là tục mời uống rượu cần, nhà trai có một đoàn từ 5-6 người biết cách sắp xếp ngôi thứ hai họ, giỏi mời chào cầm tay vào chum rượu uống theo đôi một hoặc 4 đến 5 đôi, lời hát răn dạy lại cất lên:

…Có chồng phải ủ rượu ngọt đắng

Nặng nhọc giúp nhau làm.

ốm đau giúp nhau thuốc

Được ăn không quên đũa

Được ở không quên ơn cha mẹ…

Cổ xưa phần này dược coi trọng phần trả ơn cha mẹ, công ơn người làm mối, và cha mẹ cô gái chia tài sản cho đôi vợ chồng, tiếp theo là lời hát chào, mừng hai họ và đôi vợ chồng mới. Tiếp nữa là hình hành vòng xoè giao kết hai họ và nam thanh nữ tú của hai họ. Cuộc xoè mú kéo dài đến tận đêm khuya,

Dân tộc M'nong Preh - Tây Nguyên

Tục lễ cưới hỏi gồm mấy buốc: lễ ngỏ lời, lễ dạm hỏi và lễ cưới.

Khi chàng trai tìm được cô gái vừa ý, chàng tặng cô gái cái lược, một chuỗi hạt hoặc một vòng đeo tay để làm tin. Sau đó chàng trai về thông báo cho bố mẹ và xin ý kiến. Nếu đồng ý, bố mẹ chàng trai sẽ nhờ ông mối mang lễ vật đến nhà gái. Lễ vật gồm có: một con gà, một con dao và ống măng chua.

Khi nhà gái bằng lòng, ông mối sẽ thay mặt nhà trai bàn bạc với nhà gái vể lễ dạm hỏi. Đến ngày đã định, nhà trai cử một người cao tuổi có uy tín cùng một số trai tráng khỏe mạnh mang lễ vật đến nhà gái. Tuỳ từng nơi, từng gia đình mà sính lễ khác nhau. Lễ chính gồm có: một con trâu hoặc lợn, một gùi măng chua và da trâu mối, một ché rượu cần nhỏ. Nhà gái cử một vị cao tuổi nhận lễ vật rồi bầy lên chiếc chiếu hoa ở giữa nhà để cúng giàng ( Trời) xin làm lễ dạm hỏi. Xong xuôi hai bên nhà trai, nhà gái mới tiến hành bàn bạc, chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới. Lễ cưới sẽ được tổ chức ba ngày liền ở nhà gái. Hôn lễ mở đầu bằng việc nhà gái đem biếu nhà trai mỗi người một bát gạo đầy, tượng trưng ý nguyện cầu mong cuộc sống họ luôn luôn no đủ. Mỗi bát gạo tương đưong một ché rượu mà nhà trai tặng nhà gái. Ông mối sẽ đóng luôn vai trò người làm chủ hôn. Ông dẫn đôi uyên ương đến bên cột nhà chính. Hai người làm chứng đại diện cho hai họ cầm chiếc khăn buộc vào cột nhà. Chủ lễ cầm tay đôi vợ chồng trẻ nắm vào chiếc khăn buộc vào cột nhà, ý nói tình cảm hai người đã được buộc chặt, luôn gắn bó với nhau. Sau đó chủ lễ dặn dò chú rể, cô dâu đạo vợ chồng, và trách nhiệm của mỗi người đối với cha mẹ, gia đình họ hàng. Kế tiếp lễ nghi, là cỗ bàn bày ra linh đình ăn uống.

Dân tộc Chàm

Tục lễ cưới hỏi gồm mấy bước: lễ dạm hỏi và lễ cưới.

Người Chăm tổ chức hôn lễ vào những tháng 3, 6, 8, 10 theo âm lịch Chăm. Phổ biến nhất là tháng 3 và tháng 6 vào ngày thứ tư của tuần trăng tối.

Khi gia đình có con trai tới tuổi kết hôn (ít nhất là 20 tuổi) bà mẹ sẽ tìm cô gái vừa ý để cưới cho con. Để đến được với nhau, họ phải có một quá trình tìm hiểu hoặc có người làm mối. Khi nhà gái đồng ý gả con cho nhà trai, lễ hỏi sẽ được tiến hành, nhưng một hoặc hai năm sau mới được làm đám cưới..

Trước đám cưới thì thường có lễ dứt lời(Pakioh - Po Nuối). Để chuẩn bị ngày lễ này, thì một tháng trước ngày cưới bà mai (Maha) nhà trai sang nhà gái trao đổi trước, có mang theo một “thau lớn” lễ vật gồm áo dài cưới, xà rông, khăn đội đầu, kim chỉ… tất cả những vật dụng cần thiết cho cô dâu trong đời sống riêng sau này

Lễ dứt lời (Pakioh - Po Nuối)

Đúng ngày giờ đã định, nhà trai đến nhà gái. Vị Cả Chùa tuyên bố: “Hôm nay là lễ Pakioh - Po Nuối cho hai trẻ, tiền đồng là… tiền chợ là…”. Hai họ dùng tiệc, chi phí bữa tiệc do đôi bên cùng lo. Vài hôm sau, đàng gái mang sang nhà trai 1 mâm bánh trả lễ, đàng trai trao tượng trưng 1 bao thư tiền. Sau đó cứ đến ngày Ro-Ja, chú rể và bạn bè đến thăm nhà cô dâu vào ban ngày, cô dâu không được ra gặp chú rể nhưng gia đình bố trí cho nhìn lén. Buổi tối, cô dâu cùng bạn gái qua thăm nhà chú rể. Chú rể cũng được sắp xếp để nhìn lén cô dâu.

3 ngày trước đám cưới, vị Cả Chùa và người nhà trai mang 1 cái giường qua nhà gái. Vị Cả Chùa cầu nguyện, những người cùng đi dọn phòng cưới. Tiếng Chăm gọi việc này là đi Thon - Kghe (đi ráp giường). Cũng ngày này, các phụ nữ bên nhà gái may mùng cho đôi tân hôn.

Đám cưới

  • Đến nhà trai xin rể
  • Vào ngày cưới, nhà gái cho ông mối (chano) sang đón rể. Lễ vật đi rước gồm có:
  • Chiếc vòng mà trong lễ hỏi nhà trai đã tặng
  • Máo ngang nhà trai đã tặng
  • Gạo , Rượu , Thịt ,
  • Áo , Chén đồng
  • Khi họ đến đầu làng, nhà trai phải cho người ra đón và dẫn về nhà. Sau khi sắp đặt các lễ vật như:
  • -Trầu cau , Rượu cần , một cái nồi đồng
  • -Hai chiếc vòng (một nam, một nữ) , một chiếc kiềng bạc

Lễ trao vòng tại nhà chú rể

Tiếp đến chủ nhà khấn ông bà, tổ tiên phù trợ. Khấn xong, hai bên làm lễ trao vòng, vòng nam khắc 7 dấu, vòng nữ khắc 3 dấu. Họ hàng hai bên ngồi xung quanh chứng kiến, Theo phong tục, khi hai người không còn ăn ở với nhau mà chiếc vòng chưa trả lại thì quan hệ vợ chồng vẫn còn và đương nhiên các thành viên này không được kết hôn với người khác. Sau lễ trao vòng, người mẹ chồng cầm chiếc kiềng bạc đeo vào cổ con dâu và trao cho đôi vợ chồng chiếc nồi đồng. Đây là những đồ vật gắn với họ suốt đời và phải giữ gìn, bảo quản cẩn thận, không để người khác mang ra khỏi bếp, không cho ai mượn hoặc không được làm mất. Xong lễ, hai bên ngồi uống rượu, trò chuyện với nhau, đến lúc trời đã về khuya, rượu đã ngấm, nhà trai và nhà gái bắt đầu hò đối đáp.

Sáng hôm sau, đoàn người nhà gái cùng nhà trai về nhà gái để làm lễ ra mắt tổ tiên. Khi đến đầu làng thì cô gái chạy trốn, ông mối (chano) nhà gái cùng với dân làng đi tìm. Họ đi quanh trong buôn một lúc rồi cũng bắt được. Lúc này ông mối lấy sợi dây vải, dài độ sải tay buộc vào tay cô gái dẫn về nhà, họ đặt cho cô dâu, chú rể cùng ngồi một chiếc chiếu mới trải ở nhà, hai người đưa tay cầm chung mảnh vải, từ đây người con trai đã chính thức trở thành thành viên của gia đình nhà gái. Vài tháng hoặc một, hai năm sau họ mới tổ chức lễ cưới chính thức.

Lễ cưới chính thức.

Thường diễn ra trong 3 ngày: ngày nướng bánh (Âm-Ha), ngày nhóm họ (Pa Thưng – Pa Gú), Ngày lễ lên ghế (lần II và III)..

Xin giới thiệu một lễ cưới truyền thống
Chú rể được rước đưa sang nhà gái .

Đúng 06 giờ họ nhà trai quần áo chỉnh tề, chuẩn bị đưa chú rể trong bộ lễ phục truyền thống của người Chăm đến thánh đường làm lễ. Khi chú rể bước xuống cầu thang nhà mình (nhà trai) để ra đi, mọi người hát: “Xin cha mẹ tha thứ, con từ giã cha mẹ”. Chú rể được che bởi một cái lọng màu sắc sặc sỡ. Đi với chú rể có ba bé trai tay bưng ba cái ô, đựng: trầu, cau, vôi, gạo, muối, bánh và trái cây đi phía trước.

Người Chăm theo mẫu hệ, họ chỉ có đưa rể chứ không có đưa đón dâu, và đám đưa rể không dùng xe máy hay ô tô, họ chỉ đi bộ!Trên đường đi, dàn kèn trống nổi lên những điệu nhạc nghe thật vui tai, rồi mọi người cùng nhau ca hát rất vui vẻ. Bước vào thánh đường, chỉ toàn nam giới, vì phụ nữ Chăm không được phép vào thánh đường. Đến thánh đường, chú rể ngồi đối diện với cha vợ, hai bên có hai người cao tuổi, đạo đức tốt làm chứng, đồng thời có vị thầy Cả đọc kinh dạy bảo chú rể bổn phận làm chồng theo luật Hồi giáo. Sau đó cha vợ bắt tay chú rể và nói: “Ta gả con gái ta tên Mahriem cho con Sarol với số tiền đồng là 01 lượng vàng và tiền chợ là 5 triệu đồng”.Rồi mọi người cùng cầu nguyện cho cô dâu – chú rể mạnh khoẻ và hạnh phúc. Buổi lễ kéo dài khoảng 15 phút.

Mọi người trong làng đổ xô ra xem đám đưa rể.

Từ thánh đường, đám đông đưa chú rể đến nhà cô dâu. Khi đến nơi, mọi người ở lại bên ngoài sân, một người của nhà gái ra đón chú rể ở cửa rồi đưa vào tận phòng cưới. Khi chú rể bước tới chân cầu thang nhà gái, các bà đàng gái bưng nước rửa chân cho chú rể trong lúc mọi người hát vang bài hát có nội dung hân hoan rửa chân, và trải khăn trắng mời chú rể bước vô nhà.Phòng cưới trang hoàng rực rỡ, lúc này cô dâu trong trang phục cưới truyền thống, trang điểm thật đẹp ngồi trên chiếc giường cưới chờ chú rể. Khi vào phòng, chú rể bước đến ngồi cạnh cô dâu đàng sau ba cái ô, đựng: trầu, cau, vôi, gạo, muối, bánh và trái cây. Các lò hương trầm được đốt lên, các bà các cô trong họ nhà gái cùng với đôi tân hôn cầu nguyện và chúc lành cho hôn lễ. Trong lễ cưới chính thức của cộng đồng không là tín hữu Hồi Giáo, thì lúc này cô dâu, chú rể ngồi bên chén rượu, thầy cúng bốc gạo vãi lên trời gọi Giàng trời, Yàng đất, Yàng ông bà về chứng kiến ngày hợp thành vợ chồng của đôi trai gái. Cúng xong, xả heo thịt, đem nấu các món ăn, rượu hút ra, cô dâu chú rể cầm đi mời khách uống làm phép. Sau đó, cô dâu, chú rể ngồi vào chiếc chiếu trải cạnh chén rượu để trao rượu cho họ hàng đôi bên. Từ đây, cha mẹ chồng goi cô dâu là "Nghê", em chồng xưng hô với chị dâu là "Ai".

Trên đầu cô dâu lúc này có giắt ba chiếc trâm, chú rể sẽ rút chiếc trâm dài nhất ở giữa đặt vào tay cô dâu, hành động này nhằm khẳng định nàng bây giờ đã là vợ của chàng. Người vợ lấy trầu têm một miếng để vào miệng chồng. Người chồng quấn lên mình vợ một phần của chiếc áo mình thể hiện sự ân cần chăm sóc của người vợ đối với người chồng và hạnh phúc mà người chồng sẽ mang đến cho vợ.

Bữa cơm của đôi tân hôn: Mâm cơm có 1 dĩa cơm, 1 dĩa thức ăn. 4 phụ nữ có gia đình hạnh phúc nói lời chúc mừng và đôi vợ chồng trẻ sẽ cùng bốc ăn chung. Sau đó chú rể thay bộ đồ do cô dâu tặng để ra ngoài tiếp khách bên nhà vợ,. Cô dâu cũng ra ngoài theo cô hoặc dì của chồng đến vái chào các bà trong họ nhà chồng (những người phụ nữ này tới nhà gái trước khi đoàn đưa rể đến) và họ hàng nhà mình. Trong tiệc cưới, trước tiên cha mẹ cô dâu tiếp đãi khách, người cha tiếp khách đàn ông, bà mẹ tiếp khách đàn bà. Để chia vui, khách mời sẽ tặng lại một phong bì đựng tiền. Rồi mọi người lại cầu nguyện và tiệc mặn được dọn lên.Trước khi ăn, có một người xách một ấm nước và một cái thau nhỏ đến trước mặt từng khách rót nước cho khách rửa tay. Thức ăn chỉ có một món duy nhất đó là cơm trắng ăn với cà ri bò và dưa chua (củ hành, củ kiệu, gừng, cải đỏ và cải trắng) và muối tiêu chanh. Theo luật Hồi giáo, người Chăm không dùng rượu và bữa tiệc của họ kết thúc nhanh chóng, chứ không ồn ào và kéo dài như tiệc cưới của người Kinh. Có trực tiếp tham dự đám cưới truyền thống của người Chăm mới thấy rằng, dù khi quá vui hay lúc quá buồn, họ đều thờ phụng đấng Ala và tuân thủ nghiêm giới răn của đạo Hồi.

 Lễ động phòng (Sen Thoa):

Bốn phụ nữ giăng mùng, trải chiếu, tiến hành lễ “lượm bạc cắc”. Người ta đặt một xô nước trong đó có 10 đồng bạc cắc. Hai vợ chồng tân hôn thò một bàn tay vào một lượt để mò bạc cắc. Ai lượm số bạc cắc nhiều hơn thì được có tiếng nói quyết định trong gia đình.

Đám cưới người Chăm trang trọng, ấm áp, không xa hoa phù phiếm. Ngày nay có thay đổi một chút: đám cưới chỉ trong 2 ngày; đưa chú rể sang nhà cô dâu vào buổi sáng thay vì buổi chiều; bỏ lễ “lên ghế lần III”; trang phục cô dâu chú rể được cách tân, nhưng vẫn giữ vẻ đẹp cổ truyền

Sau lễ cưới

Sau lễ cưới một ngày, gia đình nhà gái tổ chức cho vợ chồng đi bắt cá. Trong ngày đó, nếu vợ chồng bắt được nhiều cá thì sau này làm ăn gặp nhiều may mắn, giàu có, con cái khôn ngoan, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.

Sau lễ cưới ba ngày, hai vợ chồng về lại nhà trai làm lễ đạp tro nhà chồng. Lúc này nhà trai mổ heo, làm gà, nhắc rượu mời họ hàng, người thân và những người trong buôn để chung vui, đồng thời tiễn người con trai về ở nhà vợ. Dịp này nhà trai trao cho vợ chồng của hồi môn.

Đám cưới người Chăm trang trọng, ấm áp, không xa hoa phù phiếm. Ngày nay có thay đổi một chút: đám cưới chỉ trong 2 ngày; đưa chú rể sang nhà cô dâu vào buổi sáng thay vì buổi chiều; bỏ lễ “lên ghế lần III”; trang phục cô dâu chú rể được cách tân, nhưng vẫn giữ vẻ đẹp cổ truyền

Khuyến mãi du lịch cuối năm

} , 3000);